Quỹ đạo tăng trưởng cao của Việt Nam có thể sẽ kéo dài sang năm 2019, nhờ năng lực sản xuất mới và nguồn vốn FDI ổn định. Kế hoạch của Quốc Hội đã phê duyệt cho các chỉ tiêu vĩ mô năm 2019, với mức tăng trưởng GDP ở mức 6,6 - 6,8%, CPI trung bình khoảng 4% và thâm hụt ngân sách ở mức 3,6% GDP. Mục tiêu của Chính Phủ có thể sẽ ở mức cao trong ngưỡng chỉ tiêu kế hoạch của Quốc Hội, vì Chính Phủ muốn thúc đẩy tăng trưởng và cải cách để hoàn thành kế hoạch 5 năm 2016 - 2020.


Năm 2019, Việt Nam tiếp tục là một địa điểm thay thế rất được ưa thích cho việc đặt cơ sở sản xuất hoặc dịch chuyển từ các quốc gia khác trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, nhờ độ mở của nền kinh tế và có khoảng cách địa lý thuận lợi với các trung tâm sản xuất khác của thế giới. Do đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo có thể duy trì động lực hiện tại, nhờ vào năng lực sản xuất mới và dòng vốn FDI ổn định. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh xây dựng các dự án cơ sở hạ tầng cũng có thể là một động lực tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm 2019, nếu đầu tư công tăng tốc trở lại trong những năm cuối của kế hoạch 5 năm 2016 - 2020. Những cải cách hiện tại ở Việt Nam không chỉ giới hạn trong lĩnh vực DNNN hoặc hệ thống Ngân hàng, mà còn hướng tới việc hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu thông qua một số hiệp định thương mại tự do mới, như CPTPP hoặc FTA EU - Việt Nam, vốn được trông đợi sẽ đem đến thêm làn sóng đầu tư nước ngoài mới.


Về lạm phát, SSI tin rằng áp lực năm nay tương đối thấp và được kiểm soát tốt. Điều này giúp thực hiện tăng giá nhiều hàng hóa, dịch vụ thuộc diện quản lý giá, thực hiện cơ chế thị trường, ví dụ điện (8,36%), than, y tế, giáo dục v.v…, hay nâng thuế bảo vệ môi trường. Giá lương thực và thực phẩm đã ở mức cao trong năm 2018, có thể trở thành bộ đệm để kiềm giữ lạm phát. 


Mặt khác, sự phục hồi của giá cả hàng hóa thế giới, tác động của El Nino đối với các sản phẩm nông nghiệp và việc giảm giá trị đồng VNĐ sẽ là những rủi ro chính đối với các giả định của SSI. Quốc Hội gần đây đã nhắc nhở Chính Phủ rằng trong kế hoạch 2016 - 2020, mục tiêu lạm phát đến năm 2020 là thấp hơn 3%. Chủ trương từ Quốc Hội là cần kiểm soát lạm phát và chủ trương này có thể sẽ tiếp tục là ưu tiên quốc gia trong các năm tới.


Với việc áp lực lạm phát trong ngắn hạn giảm đi, chính sách tiền tệ có thể không quá thắt chặt, có nghĩa là NHNN có thêm dư địa chính sách để điều chỉnh nếu cần hỗ trợ tăng trưởng. Cụ thể, trong khi hạn mức tăng trưởng tín dụng cho năm 2019 chỉ là 14%, vẫn có cơ hội cho sự điều hành tiền tệ linh hoạt nếu tăng trưởng yếu hơn dự kiến. Trong khi đó, chính sách tài khóa vẫn tiếp tục theo hướng hỗ trợ tăng trưởng, giúp đẩy mạnh việc đầu tư công, đặc biệt đối với các dự án cơ sở hạ tầng.

 
Về lãi suất, nhiều khả năng lãi suất cho vay tăng lên khoảng 0,03% - 0,05% trong năm 2019. Tuy rủi ro lạm phát là không đáng kể, nhưng chi phí vốn có thể gia tăng (để tuân thủ Basel II và các yêu cầu khác từ Ngân hàng Nhà nước). SSI tin rằng các Ngân hàng sẽ tiếp tục xu hướng hiện tại trong việc đẩy mạnh cho vay tiêu dùng/cá nhân (vốn có biên lợi nhuận cao hơn). Đối với các khoản vay dài hạn như cho vay bất động sản, vốn thường có lãi suất cố định ưu đãi trong 1 - 2 năm đầu trước khi chuyển sang lãi suất thả nổi trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên, nếu hệ thống ngân hàng tăng được vốn, lãi suất sẽ được giữ ổn định hơn.
 
Với việc ít có khả năng FED tăng lãi suất trong năm 2019 (thậm chí có thể giảm), các nền tảng cho diễn biến của VNĐ vẫn được duy trì và ở mức tốt, với lượng vốn FDI giải ngân ổn định, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (đầu tư vào các thương vụ IPO và thoái vốn các DNNN, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và M&A trong khu vực tư nhân), kiều hối, thặng dư thương mại và các yếu tố khác giúp giữ cho cán cân thanh toán tổng thể thặng dư. Vì vậy, áp lực lên tỷ giá hối đoái có thể ít rõ rệt hơn so với năm 2018. Yếu tố bất ngờ sẽ là chiến tranh thương mại Mỹ - Trung diễn biến xấu trở lại, điều có thể tác động xấu đến đồng Nhân Dân Tệ và qua đó gián tiếp tác động lên VNĐ.
 
Về ngoại thương, Việt Nam vẫn có thể tiếp tục có 1 năm đạt thặng dư thương mại trong thứ 3 liên tiếp, dựa trên:
  •  Tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo (không chỉ từ điện thoại di động, mà còn từ các thiết bị điện tử khác);
  •  Cải thiện xuất khẩu các sản phẩm giá trị gia tăng (không chỉ giới hạn trong chế biến, mà còn với các ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển hơn và từ chuỗi giá trị tích hợp giá trị nội địa hơn);
  •  Thay thế nhập khẩu (thép, sản phẩm dầu mỏ);
  •  Lợi ích từ cuộc chiến thương mại/các Hiệp định Thương mại Tự do mới (CPTPP, EVFTA, v.v...).
 
Tuy nhiên, chủ nghĩa bảo hộ và sự suy yếu của nhu cầu toàn cầu (không chỉ vì tăng trưởng chậm nói chung, mà nhu cầu yếu hơn đối với một số sản phẩm quan trọng đối với Việt Nam như điện thoại thông minh) có thể gây rủi ro lớn cho tiềm năng tăng trưởng.
 
 
 

Về cải cách DNNN, SSI kỳ vọng việc IPO và thoái vốn của DNNN sẽ tăng tốc trong năm 2019 - 2020. Đây là điều mà thị trường đang trông đợi sau khi chậm lại từ quý 2 năm 2018. Năm 2018 là một năm đáng thất vọng đối với công tác tư nhân hóa. Về hoạt động IPO, Chính Phủ có kế hoạch cổ phần hóa 127 DNNN trong giai đoạn 2017 - 2020 (44 doanh nghiệp năm 2018, 64 doanh nghiệp năm 2019), nhưng thực tế tiến độ thực hiện cổ phần hóa chậm hơn kế hoạch (chỉ có 24 doanh nghiệp vào năm 2017 và 3 doanh nghiệp vào năm 2018). Liên quan đến việc thoái vốn, Chính Phủ đã lên kế hoạch thoái vốn 135 DNNN trong năm 2017 (thực tế: 13) và 181 DNNN trong năm 2018 (chỉ có 18 DNNN hoàn thành tính đến tháng 11/2018). Về việc niêm yết, đến giữa năm 2017 có 747 DNNN cổ phần hóa chưa niêm yết. Sau rất nhiều nỗ lực, vẫn còn 667 doanh nghiệp chưa niêm yết tính đến tháng 11 năm 2018.


Về các yếu tố tích cực, quá trình chuyển giao các DNNN sang Ủy ban Quản lý Vốn Nhà nước tại các Doanh nghiệp (CMSC) đã tiến triển nhanh chóng gần đây. Về cơ bản, CMSC sẽ trực tiếp đại diện cho sở hữu nhà nước tại 19 Tập đoàn Kinh tế và Tổng Công ty Nhà nước, việc đưa các DNNN về một mối sẽ giúp cho quá trình cải cách DNNN có nhiều thuận lợi hơn (mặc dù trước mắt vẫn còn nhiều khó khăn). 

 

Tóm lại, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với một loạt các vấn đề trong năm 2019, với nhiều trở ngại từ sự suy thoái kinh tế toàn cầu, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng và chính sách tiền tệ thắt chặt. Tuy nhiên, lạm phát được kiểm soát và tình trạng tài khóa lành mạnh hơn có thể cho phép các nhà hoạch định chính sách có nhiều dư địa hơn trong trường hợp tăng trưởng không đạt kế hoạch, ngay cả khi kế hoạch tăng trưởng GDP chỉ ở mức 6,6 – 6,8%, thấp hơn so với mức 7,08% của năm 2018.