Triển vọng kinh tế 2018

Tăng trưởng dự kiến trong năm 2018 phản ánh các yếu tố cơ bản mạnh mẽ hơn so với chu kỳ kinh tế trước đây, được ghi dấu ấn bởi dòng vốn nước ngoài gia tăng mạnh, lãi suất thấp, đồng VNĐ ổn định, nhu cầu tiêu dùng mạnh mẽ và việc cải thiện năng suất lao động thông qua tái cấu trúc nền kinh tế. Những cải thiện về môi trường vĩ mô của Việt Nam là kết quả của những nỗ lực không nhỏ trong việc cải cách khu vực DNNN.

 

Dự báo tăng trưởng rõ ràng trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế


SSI kỳ vọng tốc độ tăng trưởng GDP năm 2018 sẽ ở mức 6,7% so với cùng kỳ năm trước (so với mục tiêu của chính phủ là 6,5 - 6,7%), tiếp tục cao hơn các nước khác trong khu vực. Mức tăng trưởng dự báo sẽ cao trong 6 tháng đầu năm 2018 do cùng kỳ năm ngoái ở mức thấp, sau đó sẽ bình thường trở lại trong 6 tháng cuối năm. 


Đầu tư tư nhân dự báo sẽ duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ do nhu cầu phục hồi tốt hơn và lãi suất ổn định. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam tiếp tục là một phong vũ biểu đáng khích lệ về tăng trưởng trong tương lai, tiếp tục đà tăng mạnh đã đạt được trong năm 2017. 


Đối với đầu tư công, các dự án sẽ được triển khai nhanh chóng và linh hoạt hơn, hướng tới một khởi đầu mới vào năm 2018, khi nguồn thu ngân sách dồi dào hơn. 

 

Bên cạnh ngành công nghiệp chế biến chế tạo, SSI lạc quan về triển vọng phát triển du lịch Việt Nam trong 2 - 3 năm tới vì những lý do sau: 
(i) nhu cầu du lịch gia tăng của tầng lớp trung lưu đang phát triển ở Việt Nam; và
(ii) từ năm 2016 đến nay số lượng khách du lịch đến Việt Nam luôn tăng trưởng ở mức 2 con số. 

 

Dự báo việc gia tăng số lượng khách du lịch sẽ tiếp tục dựa trên cơ sở:
(i) Việt Nam thực hiện chính sách "visa điện tử" đơn giản, cũng như việc tiếp tục miễn thị thực cho khách du lịch từ Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức và Ý cho đến tháng 6 năm 2018 để thúc đẩy du lịch; và
(ii) khách du lịch từ các nước láng giềng như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản quan tâm hơn đến Việt Nam.
 


Năm 2018 - Thời điểm đỉnh cao về thoái vốn và cổ phần hóa (về mặt quy mô)


Mặc dù số lượng DNNN dự kiến thoái vốn hoặc cổ phần hóa trong giai đoạn 2018 - 2020 không bằng những năm trước, nhưng tổng giá trị các thương vụ trong giai đoạn này dự kiến sẽ lớn hơn nhiều. Số tiền thu được từ thoái vốn và cổ phần hóa giai đoạn 2018 - 2020 ước tính gấp 2,75 lần so với số tiền thu được từ toàn bộ giai đoạn 2011 - 2017 (tương ứng 26,3 tỷ USD so với 9,5 tỷ USD). Việt Nam có thể sẽ trở thành nước duy nhất trên thế giới bắt đầu một làn sóng đổi mới DNNN vào năm 2018, với việc đưa nhiều DNNN lớn và làm ăn có lãi ra chào bán công khai. 


Việc cải cách DNNN sẽ được hỗ trợ thêm bằng việc, ngày 5/2, Chính phủ ban hành Nghị quyết 09/NQ-CP thành lập Uỷ ban Quản lý Vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Dự kiến sẽ có 30 doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế sẽ chuyển giao cho Uỷ ban này quản lý, trong đó có 9/10 tập đoàn kinh tế (ngoại trừ Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) là doanh nghiệp quốc phòng) và 21 tổng công ty đang thuộc sự quản lý của các Bộ. Theo đề án do Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng, Uỷ ban sẽ quản lý, giám sát vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp; thực hiện tái cơ cấu, thoái vốn, sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, v.v. 

 
  2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017
Số lượng DNNN đã cố phần hóa  14 26 73 175 220 56 45  
Tổng giá trị thị trường của các DNNN đã cổ phần hóa (nghìn tỷ VNĐ) 60,35 5,75 25,96 45,52 158,02 39,12 213,7  
 
  2011-2015 2016 2017
Tổng giá trị thoái vốn DNNN (nghìn tỷ VNĐ) 17,74 18,83 134,6
Tổng giá trị cổ phần hóa DNNN (nghìn tỷ VNĐ) 36,52 7,11 2,58
Số lượng DNNN đã cổ phần hóa 499 56 45
 
Nguồn: Bộ Tài chính, HOSE, HNX
Dòng vốn ngoại chảy vào mạnh mẽ


Do có nhiều đợt phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) và thoái vốn DNNN, bao gồm cả các công ty dẫn đầu thị trường, và tỷ lệ cổ phần chào bán ở mức cao, SSI tin tưởng rằng đợt chào bán này sẽ được các nhà đầu tư chào đón. Cơ cấu sở hữu rõ ràng với sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân sẽ giúp các doanh nghiệp nhà nước cải thiện khả năng sinh lợi - đây là một lý do tốt để các nhà đầu tư đưa ra quyết định mua. Theo ước tính của SSI, tổng giá trị IPO trong giai đoạn 2018 - 2020 có thể đạt 9,7 tỷ USD, trong khi tổng giá trị thoái vốn có thể đạt 16,6 tỷ USD. Ngoài ra, dòng vốn đầu tư gián tiếp dự báo cũng trở lại thời kỳ đỉnh cao của giai đoạn 2005 - 2007. Ngân hàng Trung ương giờ đây đã có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc xử lý dòng vốn nước ngoài chảy vào, bằng cách thức mở rộng tiền tệ nhưng thận trọng để tránh sự ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô.

 

Vốn ngoại chảy vào nhiều góp phần giảm lãi suất và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng


Chính phủ luôn mong muốn giảm lãi suất cho vay và dòng vốn nước ngoài dồi dào là 2 nguyên nhân dẫn đến hạ thấp lãi suất ngắn hạn và giữ lãi suất trung và dài hạn ổn định ở mức thấp hiện nay. Môi trường lãi suất thấp sẽ hỗ trợ tăng trưởng tín dụng tốt, đóng góp vào tăng trưởng năm 2018. Không chỉ nhờ vào chính sách tiền tệ nới lỏng, các ngân hàng còn có thể chuyển đổi cơ cấu cho vay bằng cách tăng cường cho vay bán lẻ, từ đó thúc đẩy tiêu dùng trong nước tăng lên. Do chu kỳ tín dụng cá nhân vẫn còn trong giai đoạn đầu, rủi ro có thể được quản lý và giảm thiểu trong vòng một hoặc hai năm tới. 

 

Lợi suất trái phiếu chính phủ Việt Nam kỳ hạn 5 năm
 
Nguồn: Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam
 

Cổ phần hóa và thoái vốn giải phóng nguồn lực cho việc mở rộng tài khóa


Với các đợt cổ phần hóa và thoái vốn bắt đầu từ năm 2017, cán cân tài khóa của Chính phủ dự kiến sẽ ổn định trong 3 năm tới, cho phép chính sách tài khóa và việc triển khai các dự án đầu tư công linh hoạt hơn. Số tiền thu được từ thương vụ thoái vốn tại Tổng CTCP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SAB - HOSE) trong những ngày cuối năm 2017 là một ví dụ về việc ngân sách nhà nước bớt đi một gánh nặng, vì nó tương đương 44% tổng số tiền thu được từ thoái vốn DNNN trong giai đoạn 2016 - 2020 theo kế hoạch đầu tư công trung hạn. Điều này giải phóng nguồn lực cho Chính phủ thực hiện đầu tư công, vốn tương đối thiếu so với mong đợi trong 2 năm qua.

 

Ngân hàng tích cực xử lý nợ xấu để có thể tăng vốn 


Trong lộ trình cải cách ngân hàng giai đoạn 2016 – 2020, hai năm 2017 - 2018 là thời hạn xây dựng xong khung pháp lý của ngành, bắt đầu áp dụng hệ thống quản lý rủi ro Basel II tại 10 ngân hàng thương mại, thoái vốn nhà nước tại các ngân hàng và tăng vốn điều lệ của VAMC tăng lên 5 nghìn tỷ đồng. Trong giai đoạn 2019 - 2020, Basel II sẽ được áp dụng tại 12 - 15 ngân hàng (theo phương thức tiêu chuẩn), với hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR của các ngân hàng cao hơn mức quy định của Basel II. Đến thời điểm đó, VAMC sẽ có vốn điều lệ 10 nghìn tỷ đồng và phải hoàn thành việc xử lý nợ xấu đã mua. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng (bao gồm cả nợ xấu bán cho VAMC và nợ tái cấu trúc) phải thấp hơn 3% - con số này được Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ước tính là 8,4% vào cuối năm 2016. 


Trong năm 2018, 10 ngân hàng phải tuân thủ thời hạn Basel II sẽ bắt đầu chuẩn bị cho việc tăng vốn, bao gồm: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID - HOSE), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (CTG – HOSE), Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB – HOSE), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (TCB – OTC), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB – HNX), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPB – HOSE), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MBB – HOSE), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng hải Việt Nam (MaritimeBank – OTC), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (STB – HOSE) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB – UPCOM). SSI ước tính 14 Ngân hàng Thương mại Quốc doanh và Ngân hàng Thương mại Cổ phần sẽ thu được 3,8 tỷ USD từ huy động vốn trong năm 2018. 


Nghị quyết 42 và Luật Các Tổ chức Tín dụng sửa đổi sẽ là những công cụ chính để thực hiện thay đổi thực sự để làm sạch bảng cân đối tại các ngân hàng trong năm 2018 - 2020, và điều này sẽ hữu ích cho các ngân hàng cần tăng thêm vốn.