Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2018 đạt 7,08% - mức cao nhất kể từ năm 2007, thuộc nhóm dẫn đầu trên toàn thế giới. Xét theo ngành, động lực tăng trưởng đến chủ yếu từ ngành công nghiệp chế biến chế tạo (+12,98%) và xây dựng (+9,1%), cũng như từ ngành nông nghiệp với mức tăng trưởng cao nhất trong 6 năm. 


Xét theo tổng cầu, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17% và hình thành tài sản cố định tăng 8,22% so với cùng kỳ. Doanh số bán lẻ có mức tăng trưởng danh nghĩa là 11,7% và tăng trưởng thực tế tương tự như năm ngoái (9,4% so với 9,3%). Đối với ngành du lịch, Việt Nam đã đón 15,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế, tăng mạnh 20% so với cùng kỳ. 


Tăng trưởng cao còn đi kèm với lạm phát thấp, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trung bình tăng 3,54% so với năm trước, thấp hơn mục tiêu 4% của Chính Phủ. Các yếu tố chủ yếu làm tăng CPI năm 2018 bao gồm: giá xăng dầu, dịch vụ y tế, thực phẩm, và học phí. Lạm phát cơ bản ở mức khá thấp, trung bình chỉ tăng 1,48% so với cùng kỳ.

 

 

Trên thực tế, mức tăng trưởng năm nay gần với mức đỉnh gần đây nhất đạt được trong giai đoạn 2005 - 2007. Sự khác biệt nằm ở chất lượng tăng trưởng. Trong giai đoạn 2006 - 2007, tỷ lệ năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng GDP là khá nhỏ (khoảng 5%), trong khi con số này đạt 43,5% cho năm 2018 (trung bình 2016 - 2018: 43,29%). Điều này có nghĩa là để đạt được cùng một mức tăng trưởng, Việt Nam giờ đây cần ít vốn hơn, và có năng suất lao động cao hơn. Nhìn vào dữ liệu, có thể thấy rõ rằng sự cải thiện trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo và xây dựng, cùng với lạm phát được kiểm soát là các tác nhân chính cho sự tăng trưởng ấn tượng này.


Về mặt Đầu tư, tổng vốn đầu tư tăng 11,2% so với cùng kỳ (khoảng 80 tỷ USD, tương đương 33,5% GDP), và một lần nữa, khu vực tư nhân dẫn đầu về tăng trưởng (+18,5% so với cùng kỳ), tiếp theo là khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (+9,6% so với cùng kỳ) và sau đó là khu vực công (+3,9% so với cùng kỳ). Đặc biệt, khu vực công chỉ tính bao gồm 100% Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), do đó, có thể có một số khoản đầu tư của các doanh nghiệp khác mà sở hữu nhà nước một phần, được tính vào khu vực tư nhân. 


Đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nói riêng, SSI nhận thấy sự phục hồi ấn tượng của dòng vốn FDI vào Việt Nam trong tháng cuối cùng của năm 2018. Nhờ đó, vốn FDI đăng ký mới đã tăng thêm 2,22 tỷ USD và giúp cho mức giảm vốn FDI đăng ký mới năm 2018 xuống chỉ còn khoảng 13,83% so với cùng kỳ, đạt tổng cộng 25,6 tỷ USD. Vốn đầu tư FDI giải ngân đạt xấp xỉ 2,6 tỷ USD vào tháng 12 năm 2018, tăng mạnh +73% so với cùng kỳ; đưa con số cả năm tăng lên 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Với việc mức vốn FDI đăng ký mới tương đối cao như vậy được duy trì (tương ứng 1,85 lần mức giải ngân hàng năm), lượng vốn FDI thực hiện năm 2019 có thể được đảm bảo sẽ tăng trưởng hơn nữa.


Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài gián tiếp (FII), tổng số vốn đạt 9,89 tỷ USD năm 2018, tăng mạnh gần +60% so với năm 2017. Tổng cộng, đầu tư nước ngoài đã đăng ký (FDI cộng với FII) là khoảng 35,46 tỷ USD. 


Về mặt tiền tệ, tổng phương tiện thanh toán tăng 12,5% so với cùng kỳ (năm 2017 tăng 14,19%) và tăng trưởng tín dụng đạt 14% (năm 2017 tăng 18,1%). Điều này cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng thắt chặt hơn, bắt đầu từ nửa sau năm 2018 khi tăng trưởng cao đạt kỳ vọng và mức biến động toàn cầu gia tăng. Về hoạt động tài khóa, có thể thấy ngân sách thặng dư cao cho tới những tháng cuối năm, tuy nhiên số liệu cả năm có thể vẫn được báo cáo là thâm hụt, vì thông thường các khoản chi ngân sách được phép chuyển tiếp sang năm 2019. SSI có thể khẳng định ngân sách nhà nước ở mức tích cực vào cuối năm 2018. Nguyên nhân là do Chính Phủ chi tiêu ít hơn dự kiến, mức chi cho đầu tư phát triển chỉ ở mức 65,1% kế hoạch cả năm.

 

 

Yếu tố ấn tượng nhất đối với Việt Nam trong năm qua là hoạt động xuất nhập khẩu, với mức tăng trưởng xuất khẩu là 13,2% so với cùng kỳ, đạt 243,5 tỷ USD và tăng trưởng nhập khẩu là 11,1% so với cùng kỳ, đạt 236,7 tỷ USD. Nhờ vậy, cán cân thương mại Việt Nam đạt thặng dư cao kỷ lục - 6,8 tỷ USD. Các nhóm sản phẩm có mức tăng trưởng xuất khẩu khá bao gồm máy móc thiết bị (+28,2%), máy ảnh (+37,8%), dệt may (+16,7%).

 

Các yếu tố chính thúc đẩy thặng dư thương mại đến từ xuất khẩu ròng điện thoại di động tăng mạnh (33,21 tỷ USD năm 2018 so với 28,84 tỷ USD năm 2017), nhờ tỷ trọng nội địa hóa trong sản xuất điện thoại di động tăng lên và tác động thay thế nhập khẩu, trong đó đặc biệt là việc đưa vào hoạt động Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và tác động từ dự án thép Formosa.

 

Tuy nhiên, các nhân tố thiếu ổn định vẫn hiện hữu trong năm 2018. Nổi bật là việc mất giá của VNĐ khá mạnh trong nửa cuối năm (ảnh hưởng tiêu cực từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung), thị trường bất động sản có nhiều biến động (ảnh hưởng của dự án Luật Đặc khu hay từ việc nguồn cung khá hạn chế do các vướng mắc về luật pháp).