Kinh tế Vĩ mô 2019
 

Kinh tế Việt Nam tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực năm 2019. Mục tiêu ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát được giữ vững, chỉ số lạm phát bình quân tăng 2,79%, thấp hơn so với kế hoạch đặt ra từ đầu năm là 4%. Năm thứ 2 liên tiếp Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên 7%, thuộc nhóm tăng trưởng cao nhất Châu Á

Cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển rõ nét với sự vươn lên của khối kinh tế tư nhân, góp phần rất lớn vào việc bình ổn các cân đối vĩ mô quan trọng. Trong khi xuất khẩu khối đầu tư nước ngoài tăng rất thấp, chỉ đạt 4%, thì khối trong nước duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức 18%. Nhiều mặt hàng công nghiệp, công nghệ như điện thoại, điện tử, máy móc thiết bị, ô tô v.v… do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất đã được xuất khẩu với giá trị lớn.

Ngành du lịch tiếp tục tăng trưởng cao với lượng khách quốc tế tăng 16% và xuất khẩu du lịch tăng 17%. Nhờ sự gia tăng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của khối trong nước, năm 2019 xuất siêu hàng hóa dịch vụ đạt 7,9 tỷ USD – tăng hơn gấp đôi so với năm 2018. Cán cân thanh toán tổng thể vì vậy đạt thặng dư lớn, xấp xỉ 20 tỷ USD, tạo nguồn cung ngoại tệ dồi dào cho dự trữ ngoại hối và gián tiếp tăng nguồn cung tiền cho thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Lãi suất vì vậy được giữ ở mức thấp và giảm nhẹ vào cuối năm.

 

Thị trường Chứng khoán 2019

 

Trái lại với diễn biến tích cực của kinh tế vĩ mô, năm 2019 được đánh giá là một năm đầy khó khăn của Thị trường Chứng khoán (TTCK) Việt Nam.

 

 

 

Chỉ số VN-Index kết thúc năm 2019 ở mức 960,99 điểm, tăng 68,45 điểm (+7,67%) so với mức cuối năm 2018. Thị trường đã tăng mạnh trong 3 tháng đầu năm nhờ dòng vốn nước ngoài vào mạnh mẽ (đặc biệt là thông qua các quỹ ETF chuyên mô phỏng thị trường Việt Nam). Tuy nhiên, VN-Index mất đà tăng trong những tháng tiếp theo của năm (trừ tháng 7 và tháng 9) do gia tăng rủi ro từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, đường cong lợi suất đảo ngược, và căng thẳng địa chính trị v.v…, tạo áp lực cho dòng vốn nước ngoài rút ra khỏi thị trường. Bất ổn toàn cầu cùng với sự thiếu hụt các yếu tố xúc tác mới như các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) hay thoái vốn nhà nước lớn, vấn đề tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thông tin chưa tích cực về khả năng nâng hạng thị trường khiến nhà đầu tư cá nhân (chiếm 86% tổng giá trị giao dịch) trở nên thận trọng hơn, chủ động rút bớt khỏi thị trường hoặc chuyển sang các công cụ đầu tư an toàn hơn như trái phiếu doanh nghiệp, vàng. Giá trị giao dịch trung bình ngày thông qua giao dịch khớp lệnh (trên 3 sàn) đã giảm 34% trong năm 2019 xuống còn 149 triệu USD. Tổng giá trị mua ròng của nhà đầu tư nước ngoài chỉ đạt 206 triệu USD trong năm 2019, thông qua giao dịch khớp lệnh và thỏa thuận, thấp hơn nhiều so với con số 1,84 tỷ USD trong năm 2018. Dòng vốn nước ngoài mới đổ vào Việt Nam vẫn chủ yếu thông qua các quỹ hoán đổi danh mục (ETF), do khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn nhiều hạn chế. Tổng giá trị ròng dòng vốn vào (inflow) từ các quỹ ETF đạt khoảng 220 triệu USD. Tất cả 5 quỹ ETF mô phỏng thị trường Việt Nam đều ghi nhận dòng vốn đổ vào tích cực trong năm qua, nhất là hai quỹ VFMVN30 ETF và VanEck Vectors Vietnam ETF. Triển khai vào tháng 7/2019, quỹ Premia Vietnam ETF là quỹ mới nhất gia nhập thị trường và mới đóng góp khá khiêm tốn khi bắt đầu, ở mức 24 triệu USD. Quỹ SSIAM VNX50 ETF và DWS FTSE Vietnam Swap UCITS ETF thu hút giá trị ròng dòng vốn vào tương ứng 2,5 triệu USD và 14,9 triệu USD.

 

 

Điều kiện thị trường không thực sự thuận lợi cũng khiến hoạt động huy động vốn của nhiều doanh nghiệp chịu ảnh hưởng. Khác hẳn với không khí sôi động nửa đầu 2018 với hàng loạt thương vụ “bom tấn”, năm 2019, các hoạt động IPO khá hạn chế, chỉ có một vài doanh nghiệp nhỏ tiến hành đấu giá cổ phần ra công chúng. Tương tự, hoạt động huy động vốn cổ phần cũng khá im ắng.

 

Đối với TTCK phái sinh, mặc dù mới chính thức đi vào hoạt động được hai năm nhưng thị trường đã có những bước tăng trưởng tích cực. Trên thị trường phái sinh hiện có hai sản phẩm là hợp đồng tương lai trên chỉ số VN30 và hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ kì hạn 5 năm. Tính đến cuối năm 2019, theo báo cáo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), thị trường đã đạt trên 90 nghìn tài khoản, tăng 58% so với cuối năm 2018. Hệ thống thành viên giao dịch và bù trừ của TTCK phái sinh đã có 19 công ty chứng khoán được cấp Giấy chứng nhận thành viên bù trừ. Bên cạnh đó, ngày 28/6/2019, sản phẩm mới là chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant - CW) đã chính thức được giao dịch, việc ra đời sản phẩm này góp phần hỗ trợ nhà đầu tư phòng ngừa những biến động trên thị trường cổ phiếu.

 

Năm 2019 không thể không kể đến sự bùng nổ của thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Theo thống kê công bố từ Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và từ các doanh nghiệp, trong năm 2019, có 211 doanh nghiệp thực hiện chào bán tổng cộng 300.588 tỷ VNĐ trái phiếu, chia làm 807 đợt phát hành trong đó có 12 đợt phát hành không thành công. Tổng số trái phiếu phát hành cả năm là 280.141 tỷ VNĐ, tương đương 93,2% giá trị chào bán và tăng 25% so với năm 2018. Lượng phát hành lớn trong năm đã khiến quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp tăng mạnh từ 9,01% GDP (2018) lên khoảng 11,3% GDP (2019), tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp lưu hành đạt gần 670 nghìn tỷ VNĐ.

 

 

Thị trường trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp, mở rộng là xu hướng tất yếu và phù hợp để tạo sự cân bằng và nâng cao chất lượng thị trường tài chính. Tuy nhiên, hiện nay trái phiếu doanh nghiệp vẫn là kênh đầu tư khá mới mẻ tại Việt Nam, sự phát triển nhanh giai đoạn vừa qua có tiềm ẩn những rủi ro nhất định cần được nhận diện và điều chỉnh bởi cơ quan quản lý để đảm bảo sự phát triển lành mạnh và bền vững của thị trường.